ĐUỐC SÁNG TÂM PHÚC
Nghiệm lại các mối Phúc để đời người thêm ý nghĩa vì đong đầy tình Chúa, tình người. Ơn Phúc này được tỏ lộ từ chính lời rao giảng của Chúa Giêsu khi Người công bố hiến chương Nước Trời chứa đựng trong Tám mối phúc bất hủ. Chỉ vì giao ước Tình yêu, Thiên Chúa đã cúi xuống, đến với con người, trao ban lời ân Phúc. Là người bước theo Chúa Kitô, chúng ta được mời gọi khám phá kho tàng ơn Phúc ấy, để đời sống thánh hiến đạt đến giá trị trọn vẹn nhất.
Nếu truyền thống suy tư Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan và con đường giải thoát bằng lý trí, thì Kitô Giáo cũng tìm kiếm sự giải thoát ấy, nhưng bằng lời đáp trả tình yêu với Thiên Chúa là nguồn Phúc thật. Nguồn phúc này được ban cho tất cả mọi người, đặc biệt là những người ai nghèo khó trong tinh thần, vì lẽ đơn giản là họ luôn khát khao và tìm kiếm chân lý. Chân lý ẩn chứa trong lời hứa của Chúa Giêsu “Phúc cho anh em là những người có tâm hồn nghèo khó” (Mt 5,3). Sự nghèo khó tinh thần là nền tảng để đón nhận mối Phúc thật và đạt được sự thánh thiện. Thật khó để hiểu, hiểu rồi để sống nhưng sự thật vẫn không thay đổi, Nước Thiên Chúa thuộc về những tâm hồn đơn sơ, khiêm hạ, nghèo khó... Chính Người sẽ làm thỏa lòng và lắp đầy mọi khao khát sâu thẳm trong tâm hồn con người. Vì Đấng tuy giàu có, nhưng “đã làm cho mình nên nghèo khó” (2 Cr 8,9). Trái lại, những kẻ khôn ngoan, người quyền thế thì nào có được thưởng nếm nguồn Phúc ấy. Như lời Thánh Gioan cảnh báo:“Ngươi nói, tôi giàu có, tôi đã làm giàu, tôi chẳng thiếu thốn chi, nhưng người không biết rằng ngươi là kẻ đáng thương, nghèo khổ, đui mù và trần truồng” (Kh 3,17).
Trước những bất công và phi lý của cuộc đời, con người thường muốn nổi loạn, phản kháng và coi đó là cách để khẳng định sự hiện hữu mình. Thật là một tiếng ồn ào trống rỗng. Một sự khép kín chính mình, chẳng hề có một lối thoát nào. Bởi vì sự phản kháng không phải lúc nào cũng là thái độ đúng đắn và chắc chắn rồi, nó không bao giờ là câu trả lời lâu bền. Vậy đâu là câu trả lời đích thực? Trong Kinh Thánh, Đức Giêsu đã đưa ra một lựa chọn thế chỗ cho sự nổi loạn, đó là “hiền lành”: “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5,4). Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích cụ thể hơn về điều này:“chúng ta nhìn những lỗi lầm và giới hạn của họ cách dịu dàng và hiền từ, không ra vẻ kẻ cả”. Cứ cư xử cách hiền hòa và khiêm nhường, chúng ta sẽ nhận được ơn Phúc từ Thiên Chúa và sự mến yêu từ mọi người xung quanh. Từ đó, cuộc sống sẽ đổi gam mầu hy vọng, hướng về miền Đất Hứa, nơi có Thiên Chúa – gia nghiệp vĩnh cửu – đón chờ.
Là con người, không ai có thể trọn hưởng niềm vui mà không nếm trải đau khổ. Đó là quy luật tất yếu của kiếp nhân sinh. Với sự chứng nghiệm của bản thân, Đức Phật dạy rằng: “Chúng ta nên nhận thức đau khổ là đau khổ, chấp nhận nó như thực kiến và chống lại nó…”. Đức Phật chỉ ra đau khổ không chỉ là một phần của cuộc sống mà còn là điều không thể tránh khỏi đối với con người? Nhưng đâu là nguyên nhân đưa đến đau khổ? Và làm cách nào để thoát khỏi nó? Thử đi tìm câu trả lời qua triết lý khổ đế trong Tứ diệu đế (Dukkha-aryasatya) của Phật giáo: “Đây là Thánh đế về khổ, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ”. Trước sự thật hiển nhiên rằng cuộc đời là bể khổ, Đức Phật đã dạy rằng con người phải tập trung vào công việc diệt trừ tham ái để đạt đến Niết Bàn – một trạng thái giải thoát khỏi đau khổ. Trong khi đó, Đức Giêsu lại mời gọi con người đi vào con đường của nguồn Phúc: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an”. Chính trong những nỗi đau của mình, con người được mời gọi ngước nhìn lên Thánh giá, nơi có sự hiện hữu của Đấng đã gánh lấy mọi nỗi oan khiên, khổ đau của nhân loại và trở nên nguồn an ủi bất tận cho những ai kêu cầu Người. Thật là Phúc cho ai nhận ra ý nghĩa của thập giá đời mình. Đau khổ không vô nghĩa nhưng có thể trở thành phương thế để đền tội, để phục vụ, để triển nở thiêng liêng. Khi đó, ngay cả những đau khổ tưởng chừng như phi lý cũng làm nên cơ hội để con người nên một với Đấng trên Thánh giá, không theo cách thế gian mà bằng tình yêu cứu độ vĩnh cửu“Chúa Giêsu an ủi chứ không phải thế gian”.
Đức Giêsu dạy rằng: “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng”.(Mt 5,6). Giữa một thế giới còn đầy rẫy bất công và tội lỗi, chỉ có một khao khát đáng để khát khao nhất là nên thánh. Nhưng để đạt được điều đó, con người cần không ngừng nỗ lực, cộng tác với ơn thánh của Chúa và chuyên tâm thực hành những công việc phúc đức trong từng ngày sống. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng nhấn mạnh“Chúng ta có thể hợp tác để làm cho điều ấy có thể xảy ra, mặc dù không phải chúng ta luôn luôn thấy được các nỗ lực của mình sinh hoa kết quả”. Chính sự khao khát nên thánh là động lực giúp con người bền bỉ trong hành trình tìm kiếm Nước Thiên Chúa và Đức công chính của Ngài. Nỗi khao khát đào sâu giúp con người gặp được Đấng Thánh, Chí Thánh.
Ngắm nhìn những cơn mưa đều đặn rơi xuống trên cánh đồng, ta thấy đất đai trở nên mềm mại, cây cỏ trở nên xanh tươi. Cũng như vậy, tâm hồn con người muốn hiền hòa, tràn đầy sức sống thì cần được tưới gội từ những cơn mưa lòng thương xót của Chúa và sự cảm thông, tha thứ của tha nhân. Chính Thiên Chúa sẽ xoa dịu những vết thương sâu thẳm trong trái tim con người, dù đó là nỗi đau của quá khứ hay hiện tại. Đến lượt mình, mỗi con người cũng được mời gọi trao ban tình thương cho người khác qua sự chia sẻ và tha thứ. “Chia sẻ và tha thứ là chiếu tỏa trong cuộc sống chúng ta một chút phản chiếu sự hoàn hảo của Thiên Chúa, Đấng trao hiến và tha thứ vô lượng. Chia sẻ và tha thứ là chiếu tỏa trong cuộc sống chúng ta một chút phản chiếu sự hoàn hảo của Thiên Chúa, Đấng trao hiến và tha thứ vô lượng”. Như lời Chúa Giêsu đã hứa: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7). Khi lòng nhân ái và trắc ẩn được lan tỏa từ người này sang người khác, chắc chắn tất cả sẽ cùng nhau cảm nghiệm được lòng thương xót vô biên mà Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Một yếu tố quan trọng làm nên đời sống hạnh phúc của con người là một tâm hồn ngay thẳng, chân thành, không khoa trương cũng chẳng giả hình, nhưng luôn quy hướng về Thiên Chúa trong ý chí, lời nói và việc làm. Nói thì đơn giản, nhưng sống như vậy giữa một thế giới đầy ảo tưởng và say mê ngẫu tượng quả là một thách đố không nhỏ. Con người ngày nay dễ bị cuốn theo những điều phù phiếm, thậm chí có lúc gạt Thiên Chúa ra khỏi trái tim và cuộc đời mình. Thậm chí có người còn khước từ sự hiện diện của Người, và coi đó là điều hư cấu, lừa phỉnh mà tuyên bố rằng “Thiên Chúa đã chết”. Nhưng không! Thiên Chúa là Đấng hằng sống, Ngài luôn ngự trị nơi những ai “có tâm hồn đơn sơ, thanh khiết và không hoen ố”. Phần thưởng cao quý dành cho những người biết giữ ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa trong trái tim mình, không để bất cứ thứ gì đi vào đời mình làm nguy hại đến mối tương giao tình yêu ấy, chính là được chiêm ngưỡng Thánh Nhan Ngài. Như lời hứa của Chúa Giêsu “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”. (Mt 5,8).
Lời mời gọi trở nên khí cụ bình an của Chúa Giêsu vang vọng trong tâm hồn con người: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”. (Mt 5, 9). Mối phúc này khiến chúng ta nghĩ về sự tàn khốc của vòng xoáy tội ác và bạo lực dưới mọi hình thức: từ chiến tranh với vũ khí hủy diệt trên chiến trường, chiến tranh ngầm trong những quan hệ ngoại giao, đến chiến tranh lạnh trong việc thao túng quyền lực…cùng những biến chứng của bạo lực như khủng bố, đàn áp tôn giáo và bạo lực xã hội. Điều đáng ngạc nhiên là con người vẫn thường chấp nhận, ngay cả khi dùng bạo lực, chiến tranh như một cách để khẳng định sức mạnh, xây dựng cuộc sống. Nhưng thực tế cho thấy càng lún sâu vào con đường này, càng bộc lộ sự bất an nội tâm. Trái lại để kiến tạo hòa bình cho thế giới, trước hết mỗi người cần có một trái tim bình an. Bởi đó, Đức Thánh Cha Phanxicô đề nghị “chúng ta phải là những nghệ nhân của hòa bình, vì xây dựng hòa bình là một nghệ thuật đòi hỏi sự bình tâm, sáng tạo, nhạy cảm và khéo léo”. Khi tâm hồn mỗi người tràn đầy bình an, họ sẽ gieo hạt giống hòa bình khắp nơi, trong gia đình, ngoài xã hội và giữa các dân tộc.
Nhìn lại hành trình khám phá các mối phúc, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng mình đang đi ngược dòng đời và khả năng chúng ta trở thành những người chất vấn xã hội qua cách sống của mình. “Một xã hội mà trong đó chính trị, truyền thông đại chúng, các cơ chế kinh tế, văn hóa và ngay cả tôn giáo cản trở sự phát triển nhân văn và xã hội đích thực, thì việc sống các Mối Phúc quả không dễ chút nào; thậm chí sống như thế còn bị người ta nhìn là tiêu cực, bị hoài nghi, và chế giễu”. Vấn đề cốt lõi nằm ở chính chúng ta. Liệu chúng ta có chấp nhận bước đi trên con đường Tin Mừng hay không? Chúng ta có dám sống như là Kitô hữu giữa thách đố của thời đại hay không? Chúa Giêsu vẫn đang chờ đợi quyết định của chúng ta, cùng phần thưởng Người dành sẵn cho những ai bị bách hại, lăng nhục, vu khống vì Tin Mừng. Đó là tinh thần của mối phúc thật:“Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời tật lớn lao”. (Mt 5, 11-12).
Quả vậy, các mối phúc giống như căn cước Kitô hữu. Ai khao khát hạnh phúc đích thực thì hãy kiên tâm trên con đường ngược dòng của Chúa. Đó là sống tinh thần nghèo khó trong tâm hồn; cư xử hiền lành, khiêm nhường, khao khát nên thánh, biết sống lòng thương xót...Tất cả đều chung quy lại ở một điều cốt yếu: con người phải có sự thánh thiện trong tâm hồn. Chính sự thánh thiện giúp chúng ta sẽ dễ dàng thực hiện cho người khác những điều mình muốn họ làm cho mình. Chính sự thánh thiện giúp chúng ta biết nhìn và hành động với lòng thương xót qua cái nhìn và trái tim của Đức Kitô . Thực vậy, Phúc cho ai không chỉ dừng lại trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình, nhưng biết mở ra để sống cho Chúa và tha nhân. Ơn Phúc của Thiên Chúa không phải để giữ cho riêng mình mà còn để lan tỏa đến người khác, để họ cũng được chung chia phần Phúc ấy nữa. Đây không chỉ là ơn gọi và mà còn là sứ mạng của người Kitô hữu – cách riêng là tu sĩ – trong quá trình khám phá, thủ đắc và truyền trao ơn Phúc của Thiên Chúa cho tha nhân. Nguồn ơn Phúc này không hề cạn kiệt khi được chia sẻ, mà ngược lại, càng được trao ban, càng triển nở mãi. Nhờ những con người sẵn lòng truyền trao Phúc lành mà giá trị này được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Càng nhiều con người như thế càng hâm nóng nhiều tâm hồn chai đá nơi những người chưa sống trọn ân Phúc – một giá trị tuyệt vời mà Thiên Chúa dành cho họ. Quả thật, người ta không thể ra khỏi chính mình được nếu không có cánh cửa của tình yêu thương. Chỉ có tình yêu mới là động lực giúp con người trao tặng đời mình, cũng như chính tình yêu mới có thể mở rộng tấm lòng để đón nhận người khác như một tuyệt đối. Con đường hoàn thành vận mạng của đời người, cuối cùng, lại chính là gom góp trọn cuộc đời mình để cho đi. Cho đi cái Phúc được nhận lãnh để rồi sẽ không bị mai một bởi cái chóng vánh của thời gian. Chính tình yêu mới có thể là cánh cửa cho con người ra khỏi chính mình để mà trao ban và chính tình yêu mới có thể giúp cho con người hoàn thành sứ mạng của mình. Tình yêu như thế là cánh cửa mở ra với hạnh phúc.
Hơn bao giờ hết, thế giới này là một thế giới “bầm dập” vì những biến động không ngừng nên rất cần những chứng nhân sống động. Chính vì thế, người tu sĩ hơn ai hết phải trở nên nhân chứng đích thực phản chiếu đời sống của người được đón nhận dồi dào ơn Phúc. Họ cần trở thành động lực thôi thúc con người đáp trả cho lời mời gọi sống các mối phúc của Chúa, không chỉ qua đời ơn gọi mà còn qua việc huấn luyện lương tâm, nuôi dưỡng cảm thức về các giá trị đạo đức và tinh thần, đặc biệt là làm chứng tá cho những giá trị của Bát Phúc. Để thực hiện được điều ấy, người tu sĩ trước hết phải bỏ đi cái tôi vị kỷ, mở lòng đón nhận ân sủng của Chúa và hết lòng yêu thương tha nhân. Càng sống sung mãn trong tình yêu của Chúa, người tu sĩ càng lan tỏa tinh thần chia chia. Sẻ chia ơn Phúc đã nhận lãnh. Sẻ chia để nhận ra cuộc sống này luôn được bao phủ bởi tình yêu Thiên Chúa. Sẻ chia để gieo niềm tin vào trái tim cho những con người đang chết cóng trong sự ích kỷ, hẹp hòi. Khi sống sứ điệp các mối Phúc, người tu sĩ không chỉ tiến bước trong mối tương quan với Thiên Chúa và tha nhân người tu sĩ mà còn gây dựng một dáng đứng chất chứa sự thánh thiện, thanh thoát cho nhân cách của mình. Từ đó, qua ngọn đuốc sáng của trái tim mình, người tu sĩ thể hiện ánh rạng ngời của người có tâm phúc. Càng tỏa sáng tâm phúc bao nhiêu càng làm bừng tỉnh bao cõi lòng nhân thế bấy nhiêu. Nhờ đó thế giới mới có thể được thắp sáng và thức tỉnh sau đêm trường u minh.
Nữ tu Lã Thị Duyên Anh