215. THƯ GỬI CHA NICOLÒ DI GHIDA
- Mã số thư: T37/ G78
- Người nhận: Nicolò di Ghida đã là một y sĩ tại Siena trước khi trở thành một tu sĩ tại đan viện Monteoliveto Maggiore.
- Thời gian: Cuối năm 1377.
- Nội dung chính: Catarina khuyến khích cha Niccolò sống thánh thiện bằng việc trung thành sống trong căn phòng của sự biết mình và biết lòng nhân hậu của Chúa bên trong mình.
Nhân danh Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và Đức Maria dịu hiền.
Con trai rất thân mến trong Đức Giêsu Kitô nhân từ,
Mẹ là Catarina, tôi tớ và nô lệ của các tôi tớ Đức Giêsu Kitô, viết cho con trong bửu huyết của Người. Mẹ ước mong thấy con sống trong căn phòng của sự biết mình và lòng nhân hậu của Chúa bên trong con. Căn phòng này là một nơi ở mà chúng ta luôn mang theo bất cứ nơi nào chúng ta đi. Trong căn phòng này, chúng ta học được nhân đức vững chắc và chân thực, đặc biệt là nhân đức khiêm nhường và đức ái bừng cháy. Tại sao vậy? Vì trong sự biết mình, chúng ta hạ mình xuống khi thấy mình thật bất toàn biết bao và chỉ là hư không. Chúng ta thấy rằng mình đã nhận được sự sống từ Thiên Chúa. Và một khi biết lòng nhân hậu của Đấng Tạo Hóa bên trong mình, chúng ta tin tưởng Người vì con người chúng ta và mọi ân sủng ta nhận được vượt trên sự hiện hữu của chúng ta.
Đây là cách chúng ta học được đức ái hoàn hảo và chân thực, yêu mến Thiên Chúa với trọn trái tim, trọn linh hồn và trọn sức lực của mình (x. Mt 22,37). Và vì yêu, chúng ta hình thành một sự ghét nhục dục ích kỷ của mình đến nỗi chúng ta hạnh phúc thấy Thiên Chúa biết cách và muốn phạt chúng ta về sự xấu xa của mình trong bất cứ cách nào Người chọn.
Khi cư ngụ trong căn phòng biết mình, chúng ta sớm trở nên kiên nhẫn trong mọi khó khăn, dù bên trong hay bên ngoài. Nếu chúng ta phiền muộn bên trong bởi mọi loại tư tưởng xấu xa, chúng ta sẵn sàng chịu đựng, coi mình không xứng đáng được bình an và tĩnh lặng thiêng liêng mà các tôi tớ khác của Chúa được hưởng. Chúng ta coi mình đáng chịu đau khổ và không đáng được hoa trái đến từ đau khổ. Cái gì là lý do cho điều này? Đó là sự biết mình.
Những ai biết mình sẽ biết Chúa và lòng nhân hậu của Người bên trong họ, và vì vậy họ yêu Chúa. Và điều gì họ tìm thấy niềm vui trong đó? Chính là trong việc chịu đau khổ không do tội mình, vì Đức Kitô chịu đóng đinh. Họ không phiền muộn vì bị người khác bách hại hay phỉ báng. Họ vui sướng chịu đựng khuyết điểm của tha nhân. Và họ tìm kiếm để mang các gánh nặng của luật lệ trong sự thật, và thà chết còn hơn phá vỡ ách của sự vâng phục. Họ luôn luôn suy phục - không chỉ các bề trên mà còn người nhỏ bé nhất.
Họ không tự phụ và thấy mình quan trọng, và vì vậy họ thực sự suy phục mọi người vì Đức Kitô chịu đóng đinh. Họ không suy phục chỉ vì sự kính trọng mang tính tự nhiên, cũng không phải vì sợ phạm tội, nhưng chỉ vì khiêm nhường và yêu mến nhân đức. Họ xa tránh nhập bọn với trần gian và những người thế tục. Còn đối với thân nhân, họ không chỉ tránh đồng hành mà còn tránh nghĩ tới, dường như những con rắn độc.
Họ yêu thích phòng riêng của mình. Họ sung sướng khi hát thánh vịnh và cầu nguyện liên lỷ khiêm nhường, và biến phòng riêng thành cõi thiên đàng. Họ thà sống trong đau khổ và với mọi loại cám dỗ của ma quỷ trong phòng riêng còn hơn trong bình an và yên tĩnh bên ngoài.
Ở đâu họ có được sự hiểu biết và khát khao này? Họ đã học nó trong phòng riêng của sự biết mình, vì nếu trước hết họ không cư ngụ trong căn phòng tinh thần này, thì sẽ không có khát khao và yêu mến cho căn phòng vật chất của họ. Nhưng họ yêu thích phòng của mình vì đã thấy và biết rằng nguy hiểm biết bao khi chuyện trò bên ngoài nó. Thật ra, một tu sĩ ở ngoài phòng của mình chắc chắn sẽ chết như một con cá ở ngoài nước.[1]
Ôi, nguy hiểm biết bao cho các tu sĩ chuyển hướng! Mẹ đã thấy bao nhiêu cột trụ đổ xuống vì những cuộc chuyện trò bên ngoài phòng riêng! Vào những thời gian luật cho phép, hay khi đức vâng lời hoặc công việc đặc biệt được trao cho, thì có thể không hại về phần thiêng liêng. Tác hại đến từ sự nhẹ dạ và từ tâm hồn đơn sơ "vì bác ái" mà những kẻ ngu ngốc đôi khi làm cho người khác khi ma quỷ lừa họ để họ có thời gian ở bên ngoài phòng riêng của mình.
Họ không nhận ra rằng lòng bác ái phải bắt đầu tại nhà mình. Điều này có nghĩa: chúng ta không được phép vì bất cứ việc phục vụ nào có thể làm cho tha nhân mà chúng ta có thể làm điều xấu hay phạm tội, hoặc làm bất cứ điều gì khiến chúng ta không tiến trên nẻo trọn lành. Tại sao sự ra khỏi căn phòng vật chất của con lại tác hại như thế? Vì trước khi con rời bỏ căn phòng vật chất, con đã từ bỏ căn phòng thiêng liêng của sự biết mình rồi. Nếu không phải như vậy, con đã biết mình yếu đuối biết bao, và sự yếu đuối đó sẽ là một dấu hiệu để con ở trong phòng riêng, không rời khỏi nó.
Con có biết hoa trái nào điều này sản sinh không? Đó là hoa trái của sự chết, vì tâm trí con đi tìm hiểu về xã hội loài người trong khi từ bỏ cộng đoàn các thiên thần. Tâm trí con trống rỗng các tư tưởng thánh thiện về Thiên Chúa nhưng đầy ắp lạc thú của thụ tạo.
Với tất cả những tư tưởng độc ác và phân tán này, sự chú ý và đạo đức của con trong việc đọc kinh Thần vụ giảm dần và sự khát khao của linh hồn cũng trở nên nguội lạnh. Rồi các cửa của giác quan mở rộng ra - mắt con nhìn những gì không nên nhìn, tai con nghe những điều ngược ý Chúa và phần rỗi các linh hồn, lưỡi con nói những lời vô ích trong khi quên nói với Chúa (x. ĐT 147). Không những con làm hại mình mà còn hại cả tha nhân vì con đã không cầu nguyện cho họ. Vì trong thời gian lẽ ra phải cầu nguyện cho họ, con đã nói chuyện phiếm. Ngoài ra, con đang tước mất của họ quyền được khai sáng. Lời nói không thể mô tả hết những xấu xa đến từ điều này. Nếu con không cảnh giác, không cẩn thận, dần dần con sẽ trượt dài đến nỗi sẽ bỏ cộng đoàn tu trì thánh thiện.
Những ai biết mình sẽ thấy nguy hiểm này và chạy trốn về phòng riêng của họ. Tại đó họ sẽ làm đầy tràn tâm trí của mình. Họ ôm chầm lấy thập giá, đồng hành cùng những người thánh thiện đã được ánh sáng siêu nhiên hướng dẫn, tiếp tục chạy như những người say về lòng nhân hậu bao la của Thiên Chúa và ăn lương thực là vinh danh Thiên Chúa và phần rỗi các linh hồn tại bàn thánh giá, chịu đau khổ với sự kiên trì chân thực thậm chí cho đến chết. Họ vui sướng được ở trong cộng đoàn như thế, và khi đức vâng lời truyền họ phải ra ngoài, họ thấy khó khăn. Nhưng thậm chí trong khi ở ngoài, họ vẫn nuôi dưỡng mình bằng bửu huyết Đức Kitô như lúc ở trong phòng qua khát khao thánh thiện và chân thực. Họ kết hợp với Đấng Nhân Hậu vĩnh cửu tối cao trong sự thúc đẩy của tình yêu.
Họ không từ chối và trốn tránh công việc, nhưng như các hiệp sĩ, họ sống trong phòng riêng mà như trên chiến trường, bảo vệ mình, chống lại quân thù với lưỡi gươm yêu-ghét và cái khiên của đức tin chí thánh (x. Ep 6,16). Họ không bao giờ nghỉ ngơi nhưng kiên trì trong hy vọng và nhờ ánh sáng đức tin tới khi sự kiên trì đem lại cho họ triều thiên vinh quang. Họ đắc thủ sự giàu có của nhân đức, một sản phẩm không thể đắc thủ hay mua tại bất cứ cửa tiệm nào trừ sự biết mình và lòng nhân hậu của Chúa bên trong chúng ta. Người ta không thể đắc thủ nó trừ khi sự hiểu biết này đã làm cho họ sống trong căn phòng vật chất cũng như căn phòng thiêng liêng.
Mẹ xác tín rằng không có con đường nào khác cho chúng ta, và đây là lý do tại sao mẹ ước mong thấy con sống trong căn phòng biết mình và biết lòng nhân hậu của Chúa bên trong con. Hãy nhớ rằng con không bao giờ đắc thủ nhân đức bên ngoài căn phòng của con. Vì vậy mẹ muốn con không thỏa hiệp trong việc thành thực với bản thân nhờ ở trong phòng riêng. Con hãy lo ngại khi phải sống ngoài phòng riêng, trừ khi vì đức vâng lời hay rất cần thiết.
Con hãy xem việc ra ngoài như bước vào lửa, và giao du với người đời như độc dược. Thay vào đó, con hãy trốn vào trong chính mình. Đừng cố tình độc ác với linh hồn con. Con trai rất thân mến, mẹ không muốn chúng ta ngủ thêm nữa. Hãy thức dậy trong sự biết mình, nơi chúng ta sẽ khám phá bửu huyết của Con Chiên hiền lành vô tỳ tích.
Đó là những điều mẹ muốn nói với con hôm nay. Con hãy tiếp tục sống trong tình yêu thánh thiện và dịu dàng của Chúa. Cho mẹ gửi lời thăm hỏi nồng nhiệt tới cha bề trên và mọi người.
Ôi Giêsu dịu hiền! Giêsu mến yêu!
[1] Theo Thánh Antôn viện phụ, trong Vite dei santi padri, chương 17.

